Khiến cho hình ảnh nông thôn bỗng dưng ngủ quên trên màn ảnh. Mùa len trâu khép lại hồi ức về câu chuyện vùng sông nước Cà Mau bằng lời thoại khá mung lung.
Vì vậy, mỗi bộ phim luôn diễn đạt tinh thần và bản sắc của một quốc gia. Điện ảnh khác kịch nói, chỉ thành công khi phát huy được sức mạnh ngôn ngữ đặc thù. Riêng Xích lô đã đoạt giải Sư tử vàng tại Liên hoan Phim Venezia vào năm 1995. Để biểu đạt vị trí Việt Nam trên bản đồ nghệ thuật thứ bảy thế giới, chúng ta cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa. Với mong muốn sánh vai bè bạn năm châu, cũng xây dựng theo lối hồi ức, nhưng lời thoại kết phim Mùa len trâu khi so sánh với lời thoại kết phim hồi ức một Geisha (đạo diễn Rob Marshall) quả là một trời một vực.
Thế mạnh của điện ảnh Việt là chiều sâu văn hóa của cảnh sắc và con người Việt Nam. Còn về cái kết thật đáng băn khoăn.
VẪN CÒN NHIỀU TỒN TẠI Giải thưởng quốc tế dành cho phim Việt chưa phải quá nhiều. Cho có mà thôi. Chính những góc quay thú nhận đó giúp người nước ngoài dù chưa một lần đặt chân đến Việt Nam cũng có thể hiểu thêm con người và sơn hà hình chữ S. Tuy trong danh sách 18 phim châu Á được tôn của CNN, chúng ta chỉ có một đại diện là Bao giờ cho đến tháng Mười của đạo diễn Đặng Nhật Minh (xếp sau Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand), nhưng cũng đủ để nền nghệ thuật thứ bảy Việt Nam háo hức phác thảo một ngày mai hòa nhập cùng sự phát triển của nền điện ảnh thế giới.
Hai bộ phim vẫn còn nhiều trường đoạn dài dòng, phá vỡ cảm xúc của người xem, khiến giá trị thẩm mỹ bị giới hạn. Xem Ba mùa, người ta chẳng thể quên được giữa những chộn rộn bán mua, gánh hoa sen của cô gái nghèo đi qua như một vùng sáng lung linh vô tận.
Kịch bản của phim được đạo diễn Đặng Nhật Minh viết xong vào năm 1983 và được Xưởng Phim truyện Việt Nam sản xuất 1 năm sau đó. Tuồng như chúng ta quên mất rằng, sự nồng cháy của cảnh sắc Việt Nam vẫn đủ sức làm nên những tác phẩm điện ảnh vượt ra khỏi biên thuỳ quốc gia. Phim có những chi tiết đắt giá, mang ấn tượng điện ảnh, nhưng cái kết chưa tương xứng với tiết điệu bộ phim.
Các nhà làm phim chứng minh ở tỉnh thành sầm uất nhất Việt Nam có 3 mùa: mùa nắng, mùa mưa và mùa hy vọng. CHINH PHỤC CÁC LIÊN HOAN PHIM Nghệ thuật điện ảnh thường hội tụ các bộ môn nghệ thuật khác như: văn chương, hội họa, nhiếp ảnh. Nhưng điều đáng quan tâm nhất là những bộ phim càng gần đạt đẳng cấp quốc tế thì càng khẳng định được sức sống của văn hóa Việt.
Nếu ví von, cái kết của phim Việt chỉ là tiếng kêu rất nhỏ của cánh cửa khép hờ, còn cái kết của các bộ phim quốc tế là âm thanh lách cách rõ ràng của cái khóa làm chúng ta rúng động! Phiên chợ âm dương trong Bao giờ cho đến tháng Mười, gánh hoa sen trong Ba mùa hay hình ảnh đàn trâu bì bõm lội nước trong Mùa len trâu đã ít nhiều giúp hồn Việt thăng hoa trên màn ảnh quốc tế. Lấy bối cảnh chính tại TP.
Chúng ta chưa thể nghĩ đến các phim bom tấn như Hollywood, nhưng vẫn có thể chinh phục quốc tế bằng nền văn hóa đậm nét Á Đông. Chính vẻ đẹp thuần Việt đã giúp Ba mùa nhận được giải thưởng tại Liên hoan phim Sundance năm 1999. Trước đây, chúng ta thường than túi tiền hạn hẹp, giờ người Việt đã đủ khả năng làm những bộ phim với kinh phí hàng triệu USD.
Sau thành công của Mùi đu đủ xanh, 2 bộ phim tiếp theo của đạo diễn Trần Anh Hùng là Xích lô và Mùa hè chiều thẳng đứng cũng biểu lộ hồn Việt và được tán thưởng khắp nơi. Bao giờ cho đến tháng Mười đã đoạt giải Bông sen vàng tại Liên hoan Phim Toàn quốc năm 1985, sau đó tiếp tục được trao giải thưởng của Ban Giám khảo Liên hoan Phim Quốc tế Hawaii năm 1985.
Điều này đã giúp Mùi đu đủ xanh có mặt tại nhiều liên hoan phim quốc tế. Phần kết phim dẫu mấy câu cũng phải nói được cái đau đáu một số, cái thao thức một thời cục hoặc cái trắc ẩn kiếp nhân sinh. Những đóa sen trong Ba mùa đã làm dịu lại cái nắng Sài Gòn, làm ấm lên cơn mưa Sài Gòn và sự lương thiện vẫn nảy mầm, vẫn tỏa hương ngay cả trong cuộc sống chen lấn, tranh giành mưu sinh.
Bên cạnh nỗi khắc khoải của người vợ mất chồng vì chiến tranh, vẻ đẹp của Bao giờ cho đến tháng Mười óng ánh ở những đêm tuồng, những buổi làm ruộng, những phiên chợ âm dương.
Và chúng ta chẳng thể nói khác hơn rằng, chính vẻ đẹp tiềm tàng của Việt Nam khi khai khẩn hiệu quả đã mang lại giải thưởng Camera Vàng cho Mùi đu đủ xanh tại Liên hoan Phim Cannes năm 1993 và được đề cử giải Phim nước ngoài hay nhất tại giải Oscar năm 1993.
Quá nhiều tình huống trên phim cứ muốn giải quyết bằng lời thoại, thay vì âm nhạc hay sự chuyển động của camera. Phim Việt hơi nhiều lời, đôi khi rời rạc, thiếu gạn lọc, làm loãng không khí bộ phim. Chỉ khi khai hoang triệt để yếu tố này, chúng ta mới có được những bộ phim tầm cỡ. Thế nhưng, các hình ảnh thuyết phục nhất của 2 bộ phim đều nằm ở những bối cảnh đồng quê, với cảnh đoàn tàu băng qua triền đồi trong Dòng máu anh hùng và dòng sông nhạt nhòa mưa lũ trong Áo lụa Hà Đông.
Có lẽ vì mục đích nào đó, gần đây các nhà làm phim hay chú trọng cảnh nhà lầu, xe hơi, váy ngắn, môi son. HCM, Ba mùa phản ảnh đời sống người Việt trong thời buổi kinh tế thị trường với những mảnh đời xô dạt, nhưng vẫn thấy được nét nhuần nhuỵ và hồn hậu của nhiều người.
Hai nhược điểm dễ thấy nhất ở các bộ phim Việt bước đầu tiếp cận quốc tế là lời thoại và đoạn kết.
Khi các nhà làm phim trong nước có nhịp hợp tác với những nhà làm phim Việt kiều, chúng ta có nhiều điều kiện để thực hành những tác phẩm điện ảnh để đời.
Sau khi sơn hà đổi mới, bộ phim Việt đầu tiên có sức vang ở nước ngoài là Mùi đu đủ xanh của đạo diễn Trần Anh Hùng. Ở đây, cần phải nói đến vai trò tầng lớp hóa điện ảnh. Dòng máu anh hùng phô diễn những pha võ thuật đẹp mắt, còn Áo lụa Hà Đông ca ngợi chiếc áo dài truyền thống nước Việt. Hầu hết cái kết của phim Việt nghe đâu chỉ để. Một bộ phim khác chứng minh đẳng cấp quốc tế của phim Việt là Ba mùa của đạo diễn Tony Bùi.
Hai bộ phim Dòng máu anh hùng và Áo lụa Hà Đông lôi cuốn hàng ngàn lượt xem nhờ vốn đầu tư cao, dàn dựng công phu. Dựng phim trường tại Paris (Pháp), nhưng các cảnh sắc Việt Nam được trình bày thật gần gũi, hấp dẫn. Ngay cả bộ phim tương đối thành công là Mùa len trâu của đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh cũng vậy.